Category: 2. Kinh tế Việt Nam


Việt Nam sai lầm trong chiến lược thích ứng với hội nhập

(VOV) – Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần có thể chế phù hợp để chính sách được thực hiện có hiệu quả trong cuộc sống.

Sáng 21/3/2012, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), tổ chức tọa đàm Đối thoại chính sách: “Hướng tới một khung khổ chính sách kinh tế vĩ mô cho Việt Nam trong trung và dài hạn”. Nhiều chuyên gia kinh tế, chính sách trong nước và quốc tế tham dự.

Nhiều chuyên gia cho rằng, kinh tế Việt Nam dễ bất ổn vì nguồn ngân sách phụ thuộc nhiều vào dòng tiền thu được từ xuất khẩu

TS Nguyễn Đức Thành, Đại diện VEPR, đưa ra đánh giá: Tính đến năm 2012, Việt Nam đã trải qua hơn 4 năm liên tục đối diện với bất ổn vĩ mô. Bối cảnh bất lợi của nền kinh tế toàn cầu cũng như những khó khăn trong nội bộ nền kinh tế đã làm bộc lộ những khiếm khuyết về mô hình tăng trưởng và cấu trúc nền kinh tế của Việt Nam.

Nhiều chuyên gia cho rằng, tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây sụt giảm do có sự tăng trưởng nóng, không dựa trên cải thiện năng suất, nguồn tăng trưởng chủ yếu dựa vào đồng vốn.

Theo kết quả nghiên cứu của VEPR, giai đoạn trước khi gia nhập WTO, nguồn vốn trong nền kinh tế Việt Nam có được chủ yếu nhờ tiết kiệm, kiều hối và đầu tư nước ngoài. Từ khi chuẩn bị gia nhập WTO tới nay, chính sách kinh tế Việt Nam đã chạy theo việc huy động nguồn lực cho khu vực nhà nước (đặc biệt là các tập đoàn lớn) nên chi tiêu và đầu tư nhà nước tăng mạnh, nhưng nguồn tiết kiệm giảm, năng suất cũng giảm.

Trước thực trạng này, chính sách kinh tế đã sử dụng giải pháp tăng trưởng tín dụng để duy trì tăng trưởng, nhưng điều này gây lạm phát tăng cao, bất ổn lớn cho kinh tế vĩ mô.

Kết quả nghiên cứu của VEPR đặc biệt nhấn mạnh, nguyên nhân gây bất ổn kinh tế trong thời gian qua do: Cải cách kinh tế trong nước không theo kịp so với sự hội nhập quốc tế (thiếu khu vực tư nhân mạnh; thị trường tài chính chưa sâu, chưa lành mạnh; thiếu tự do hóa thị trường nội địa).

Việt Nam lựa chọn chiến lược nhằm thích ứng với quá trình hội nhập một cách sai lầm dẫn đến nguồn lực bị phân bổ sai (vào khu vực nhà nước) làm giảm năng suất toàn bộ nền kinh tế.

Hơn thế, Việt Nam đã cố gắng hội nhập và duy trì tăng trưởng kinh tế trong khi năng suất của nền kinh tế tăng chậm. Điều này dẫn đến sự lạm dụng chính sách tiền tệ, tài khóa và sau đó là hành chính, càng làm nguồn lực bị phân bổ méo mó.

Ông Trương Đình Tuyển, Ủy viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia cho rằng, một trong những mấu chốt để cải thiện tình trạng bất ổn nền kinh tế là phải cải thiện tình trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Hoạt động của DNNN có phần chèn lấn nhiều sang các khối doanh nghiệp khác, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Chúng ta đã lấy tập đoàn nhà nước làm đòn bẩy cho nền kinh tế, nhưng thực tế các tập đoàn này hiệu quả kém nên không đủ khả năng làm đòn bẩy. Cho nên, nhà nước phải có cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân phát triển hơn nữa.

Một trong những nguyên nhân của thực trang bất ổn kinh tế vĩ mô thời gian qua của Việt Nam, theo các chuyên gia, là nhà nước chi ngân sách đầu tư quá lớn, đặc biệt là đầu tư cho DNNN đứng thứ 2 (sau đầu tư công) trong phân bổ ngân sách nhà nước, nhưng hiệu quả những đầu tư này không cao.

Theo TS Michael Krakowski, Chuyên gia Trưởng tư vấn kỹ thuật, Chương trình cải cách kinh tế vĩ mô MPI-GIZ, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc và chịu ảnh hưởng nhiều của nền kinh tế thế giới. Một trong các nguyên nhân là phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập cho sản xuất và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cho nên, để cải thiện tình trạng, Việt Nam cần giảm sự phụ thuộc nước ngoài vào 2 nguồn này.

Đặc biệt, TS Michael Krakowski nhấn mạnh: “Chính sách kinh tế vĩ mô trung và dài hạn cần có sự tác động ở chính sách một tầm nhìn lớn, mục tiêu rõ ràng. Hoạt động của chính sách phải phù hợp môi trường thực thi chính sách. Việt Nam cần tạo điều kiện về thể chế để chính sách thực hiện được trong cuộc sống. Chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam cần kết hợp thông minh giữa các chính sách đề ra và môi trường thực hiện chính sách. Nếu không làm được, kinh tế Việt Nam sẽ gặp những cú sốc”./.

Advertisements
Những thách thức đối với kinh tế Việt Nam
(Đài RFA 27/6)
Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng Sáu tại Việt Nam đã giảm tới mức thấp nhất trong vòng 38 tháng vừa qua và giảm mạnh nhất tại Hà Nội. 
Sự kiện này xảy ra sau khi kinh tế Việt Nam bị lạm phát rất cao từ năm ngoái. Liệu đây có là dấu hiệu cho thấy chính sách điều tiết vĩ mô đã phần nào đạt kết quả, hay ngược lại, đây là triệu chứng đáng ngại của hiện tượng giảm phát? Vũ Hoàng nêu câu hỏi với ông Nguyễn Xuân Nghĩa, chuyên gia tư vấn kinh tế của đài RFA. Continue reading

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2012-07-08
Nền kinh tế Việt Nam bước qua nửa đầu năm với những mừng lo lẫn lộn, nhưng có lẽ lo nhiều hơn mừng, khi tình trạng đình trệ sản xuất vẫn là nỗi ám ảnh, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng cao, số doanh nghiệp phá sản lũy tiến, cộng với đó là nguy cơ giảm phát.

RFA photo – Hàng hóa bày bán trên đường phố Hà Nội.

Những điều này cộng lại, khiến bức tranh chung khá ảm đạm. Ghi lại những điểm chính, Vũ Hoàng tổng hợp trong phần sau.
Những con số mới nhất phát đi từ Tổng cục Thống kê hôm 29/6 cho thấy nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu tích cực, GDP quí 2 ở mức 4,66%, tăng 0,66% so với quí 1. Thế nhưng, nhìn chung tăng trưởng Việt Nam trong nửa đầu năm nay vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng này của năm trước và thấp xa so với mục tiêu đề ra của cả năm nay ở mức 6 đến 6,5%. Để có thể đạt được tăng trưởng cả năm như kỳ vọng, nửa cuối năm nền kinh tế phải tăng rất mạnh ở mức trên 8%, đây là điều rất khó đạt được, nhất là khi nền kinh tế vừa chuyển từ lạm phát sang thiểu phát.
Đằng sau vẻ bề ngoài tiều tụy kia là một thể trạng khá ốm yếu của nền kinh tế, khi những con số biết nói đang gióng lên hồi chuông báo động: tổng nợ DNNN trên 1 triệu tỷ đồng, nợ xấu của hệ thống ngân hàng hơn 110,000 tỷ đồng, lượng hàng tồn kho chiếm đến 26% tổng số hàng hóa, doanh nghiệp giải thể, hoặc ngừng hoạt động tiếp tục tăng cao ở mức trên 26,000 doanh nghiệp; trong đó, những nhóm ngành đầu tầu động lực thúc đẩy nền kinh tế như công nghiệp và xây dựng thì đang gần chạm đáy và hồi phục chậm chạp.

Hàng tồn kho

Hàng hóa chất cao trong một siêu thị ở Hà Nội hôm 11/6/2012. RFA photo
Mặc dù lần đầu tiên trong vòng 38 tháng, Việt Nam có mức tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI âm vào tháng 6, nhiều người cho rằng những biện pháp kiềm chế lạm phát bắt đầu phát huy tác dụng, thế nhưng, hiện tượng mới xuất hiện lại được xem là dấu hiệu của giảm phát. Tuy mới chỉ một tháng có chỉ số âm thì chưa thể đi đến kết luận, nhưng điều đáng lo ngại là vì nguồn gốc đưa đến chỉ số giá cả giảm, bắt nguồn từ hàng tồn kho chất đống, người dân cạn tiền chi tiêu, đó là mắt xích trong xâu chuỗi khép kín nguy hiểm: thất nghiệp, cầu giảm, giảm giá, nợ xấu và phá sản.
Với con số 26% hàng tồn kho, đó là nỗi ám ảnh của nhiều ngành nghề: hàng triệu tấn than, xi măng nằm phơi khô, hàng ngàn tấn thép chất đống. Đi đến đâu, có mặt chỗ nào, người ta cũng thấy “hàng đại hạ giá” thế nhưng buôn bán vẫn ế ẩm, động lực chính để thúc đẩy nền kinh tế nói chung đang mất đà, đi vào bế tắc. Nhận xét về hiện tượng này, chuyên gia cao cấp Bùi Kiến Thành cho biết do mất mãi lực chi tiêu, nên giá tiêu dùng xuống đột biến và điều này cần phải thận trọng:

Doanh nghiệp đang ứ đọng hàng tồn kho rất nhiều, trong nền kinh tế không còn sức mua nữa.

Chuyên gia Bùi Kiến Thành
“Lạm phát xuống rất là nhanh, nó biểu hiện gì và vì sao chỉ số giá tiêu dùng xuống nhanh đến như vậy? Số doanh nghiệp phá sản tăng thêm nữa, như vậy tình hình hoạt động kinh tế bị đình đốn. Chúng ta thấy rằng có hàng triệu người bị thất nghiệp, mất mãi lực mua bán và các doanh nghiệp bị tồn kho rất nhiều, bán hàng không được, tung ra bán không ai mua, bán một mua một cũng không ai mua bởi vì dân chúng không còn tiền nữa. Doanh nghiệp đang ứ đọng hàng tồn kho rất nhiều, trong nền kinh tế không còn sức mua nữa.
Một mặt doanh nghiệp không có tiền để sản xuất ra, một mặt hàng hóa ứ đọng lại, do vậy, nền kinh tế rất khẩn trương để sao có thể giải quyết được hàng tồn kho và sao doanh nghiệp có thể tiếp tục sản xuất. Vì thế chỉ số giá tiêu dùng xuống đột biến, đó không phải là một hiện tượng gì đáng mừng mà phải thận trọng để nghiên cứu.”

Doanh nghiệp phá sản

Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế Việt Nam. RFA/internet.Điều mà chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành vừa nhận xét khiến chúng ta nhớ lại trong năm ngoái Việt Nam có gần 80,000 doanh nghiệp phá sản, hoặc giải thể trong khi từ đầu năm đến nay lại có thêm hơn 26,000, chưa kể hàng ngàn doanh nghiệp khác còn đang trong giai đoạn “chết lâm sàng,” theo tính toán có khoảng hơn 30% trong số này được cho là do thiếu vốn kinh doanh vì lãi suất vay còn cao. Nhắc đến đây, chúng tôi, muốn điểm lại vấn đề lãi suất cũng là một trong những “điểm nóng” của nửa đầu năm nay. Mặc dù, đã được hạ giảm lãi suất đến 4 lần trong vòng 3 tháng, nhưng dường như nguồn vốn vẫn chưa đến được với các doanh nghiệp được dễ dàng.
TS Ngô Trí Long, chuyên viên trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhận xét thêm về tình trạng này như sau:
“Với mức độ giảm lãi suất cả huy động lẫn lãi suất cho vay như hiện nay thực tế là các doanh nghiệp vẫn rất khó tiếp cận, chỉ trên lý thuyết mà thôi, trên thị trường thông báo mà thôi. Thực tế với lãi suất như vậy thì vẫn còn khó khăn đối với các doanh nghiệp.”
Theo đánh giá của nhiều doanh nghiệp thì mức lãi suất có thể chấp nhận được phải là dưới 10% chứ với mức ưu đãi 14% như hiện tại thì họ vẫn chưa thể tiếp cận được, chứ chưa nói là có thể làm ăn sinh lời.

Nợ xấu, tham nhũng

Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam Vinashin. RFA photo.
Bên cạnh vấn đề hàng tồn kho cao, cộng với doanh nghiệp phá sản thì chuyện nợ xấu cũng là tâm điểm của báo giới Việt Nam trong 6 tháng đầu năm.
Nợ xấu xuất hiện từ khối doanh nghiệp Nhà nước kéo sang đến bên ngân hàng. Theo thông báo của NHNN đưa ra hôm 30/4, số nợ xấu của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng xấp xỉ 110 ngàn tỉ đồng và tốc độ tăng trung bình gần 9% tháng. Trong khi đó, mới đây hôm 1/7, Bộ Tài chính cho biết tổng số nợ của 30 DNNN là trên 1 triệu tỷ đồng. Con số khổng lồ này khiến người ta nhớ lại chuyện nợ nần của Vinashin từ nhiều năm qua và mới đây là của Vinalines, với ông cựu chủ tịch Dương Chí Dũng hiện vẫn còn đang lẫn trốn. Nhận xét về vụ việc Vinalines, TS Lê Đăng Doanh, Nguyên viện trưởng Viện quản lý Kinh tế Trung ương cho biết:
“Việc đổ vỡ của Vinalines và việc truy nã ông Dương Chí Dũng là giọt nước tràn ly làm cho nghị trường quốc hội Việt Nam nóng lên vì các sai sót rất nghiêm trọng không thể chối cãi được của các tập đoàn kinh tế nhà nước.”

Hiện nay Việt Nam căn bệnh gọi là trầm kha rất cố hữu mà ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô là năng suất, chất lượng hiệu quả còn rất thấp, tham nhũng chưa triệt được tận gốc, những tiềm năng bất ổn kinh tế vĩ mô rất lớn.

TS Ngô Trí Long
âu chuyện tham nhũng, thất thoát nguồn vốn Nhà nước của các tập đoàn kinh tế lớn là chuyện kể mãi không hết. Thế nhưng, mỗi khi nhắc lại vẫn không khỏi khiến người nghe đau lòng vì suy cho đến cùng đó là tiền thuế mồ hôi nước mắt của bao người dân đóng góp. Người dân đang cạn tiền để chi tiêu, doanh nghiệp làm ăn chân chính đang đói vốn để làm ăn thì vẫn có những “con sâu” như Vinalines vung tiền bừa bãi, mua ụ nổi cũ, không sử dụng, tiêu tốn hàng trăm tỉ đồng.
Mặc dù nền kinh tế tháng 6 này bắt đầu có những dấu hiệu tích cực hơn so với hồi đầu năm, nhưng tốc độ còn rất chậm và mới chỉ dừng lại ở một vài chỉ số như lãi suất, tỉ giá. Trong khi đó đề án tái cấu trúc nền kinh tế vĩ mô vẫn dậm chân tại chỗ, mặc dù Quốc hội đã đề xuất, nhưng Chính phủ vẫn chưa thông qua. Hiện tại, nền kinh tế vĩ mô vẫn còn chứa đựng nhiều bất ổn. TS Ngô Trí Long kết luận:
“Hiện nay Việt Nam căn bệnh gọi là trầm kha rất cố hữu mà ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô là năng suất, chất lượng hiệu quả còn rất thấp, tham nhũng chưa triệt được tận gốc, những tiềm năng bất ổn kinh tế vĩ mô rất lớn.”
Có thể thấy chỉ trong vòng 6 tháng, nhưng nền kinh tế Việt Nam đã trải qua rất nhiều biến động với những thách thức nhiều hơn là cơ hội. Mấu chốt của vấn đề chính là tốc độ tăng trưởng chậm với những bất ổn nội tại kéo dài của nền kinh tế đang nhọc nhằn thoát khỏi lạm phát và vướng vào thiểu phát

So much for the next Asian success story.

BY GEOFFREY CAIN | JULY 11, 2012

HO CHI MINH CITY – In what was once one of Asia’s most exciting emerging markets, Nguyen Van Nguyen sees only gloom ahead. Since 2008, his business in southern Vietnam’s economic capital has suffered through two volatile bouts of inflation, peaking in August 2011 at 23 percent — at the time, Asia’s highest inflation rate. Now he’s only accepting small overseas orders for Binh Minh, his once-thriving bamboo-screen factory in Ho Chi Minh City, to hedge against price fluctuations. He says customers in Australia, Europe, and the United States have decreased their orders following weakening global demand. Production costs across the industry have risen approximately 30 percent while customers are only willing to pay about 10 percent more, says Dang Quoc Hung, vice president of Association for Handicraft and Wood Industry in Ho Chi Minh City. Nguyen’s hiring fewer workers for the summer high season and cutting their pay to about $120 a month, down from $200. “We can only work at a slow speed, and things are hard now,” he lamented in late June.

The Communist Party of Vietnam would prefer that investors see cases like Nguyen’s as simply one-off local effects of the global economic slowdown, not of a systemic weakening. In the two decades since the Communist Party instituted economic reforms in 1986, annual GDP growth averaged a remarkable 7.1 percent. Indeed, four years ago, Vietnam seemed like the next Asian success story. Before joining the World Trade Organization in 2007, the country’s leaders pledged to do even better, speeding up a vast restructuring and privatization of their wasteful state-owned enterprises (SOEs), a process they euphemistically called “equitization.” The International Monetary Fund predicted in 2007 that cheaper imports as a result of WTO accession could contain inflation, and that structural reforms could level the playing field between local and foreign competitors. But on Hillary Clinton’s visit to the capitol Hanoi earlier this week, Prime Minister Nguyen Tan Dung was forced onto the defensive, promising favorable conditions for foreign investors as he tries to keep the “Vietnam miracle” alive.

Over the past decade, rising labor costs in China meant that its days as the factory of the

world were numbered. Stable Vietnam, with its young, cheap workforce and serviceable infrastructure, seemed like the logical next choice. Foreign investment poured in throughout the mid-2000s, with net inflows more than tripling to $9.6 billion in 2008 from two years earlier. Vietnam was the “next Asian tiger in the making,” said Goldman Sachs. “Foreign investors didn’t care about governance or policy. They were driven by low labor costs,” says Edmund Malesky, a political economist at the University of California at San Diego who focuses on Vietnam.

Ignoring the politics, it turned out, was a costly oversight. Few businesspeople predicted the Vietnam of 2012: a country struggling with a weak currency, inflation, red tape, and cronyism that has led to billions of dollars of waste — and home to a government that makes decisions like building oddly placed ports or roads that serve little economic value.

Things started to turn south when Vietnam embarked on a $100 billion expansion in the domestic credit stock from 2007 to 2010, a program accelerated by the 2008 economic crisis. Instead of being directed towards private businesses, the government channeled the funds to politically connected SOEs, who used them to expand fervently into areas outside of their expertise, creating an increased demand for resources that fedinflation. Flush with cash, they were able to drive out smaller, more efficient competitors. The massive state-run shipbuilder Vinashin, which employed some 60,000 workers and oversaw 28 shipyards, diversified into almost 300 units, including motorbike manufacturing and hotels, after it raised an additional $1 billion from international investors in 2007. Officials hoped it would drive growth like South Korea’s semi-public conglomerates.

But in 2010, Vinashin was found to be falsifying its financial reports, and it nearly collapsed under $4.4 billion worth of debt owed to both local and international creditors, a number equivalent to almost 5 percent of GDP. It eventually defaulted on a $400 million loan arranged by Credit Suisse. Prime Minister Nguyen Tan Dung — who backed Vinashin as his pet project central to the state-run economy — was forced to apologize before the National Assembly during a painful self-criticism session. Dung’s rivals, seeking to protect their own corporate fiefdoms and political offices, had found their scapegoat: Authorities sentenced eight executives last March. But instead of speeding up its much promised and grindingly slow process of privatization initiated in the 1990s, authorities swept the debacle under the rug.

The government went into damage-control mode, refusing to back the $400 million Credit Suisse loan as the conglomerate remained uncommunicative with European creditors. Responding to the crisis, Moody’s downgraded Vietnam’s sovereign credit rating one notch to B1 from Ba3, signifying a “high credit risk” below investment grade.

Other Vinashin-like breakdowns were in the works, but secretive kickback networks allowed them to cover up their failing books for years, according to several state-employed newspaper editors interviewed in 2011. In May 2012, an ongoing government investigation revealed that the state-owned shipping company Vinalines haddefaulted on five loans worth $1.1 billion, and accumulated debt of $2.1 billion, more than four times its equity. Since February, four executives have been arrested for mismanaging state resources; authorities, meanwhile, are on the hunt for its fugitive former chairman.

Foreign investors, facing higher costs of labor and materials, began to worry that Vietnam was losing its low-priced edge. Four foreign investors complained in interviews over the last 2 years that state-owned companies abused their position as government-connected industry gatekeepers. “They’re a pain in the ass,” said one American business lawyer in Ho Chi Minh City. “Nobody wants to deal with these guys.”

While Vietnamese officials are now assuring investors that the worst is over, a government audit released in early July revealed that at least thirty other large SOEs carry worrisome debt burdens. The deeper problem is that in Vietnam, unlike in China, the Communist Party elite are paranoid about sharing the spoils with private, and especially foreign, businessmen. In China, the party has generally kept its markets competitive by bringing private businesspeople into the fold, improving governance, privatizing around 90,000 firms worth more than $1.4 trillion between 1998 and 2005, and more recently purging neo-Maoist gangsters like former Chongqing Party Secretary Bo Xilai. Vietnamese leaders still haven’t figured out how to fix their economy without relinquishing some form of political control — a step they’re unwilling to take.

Instead of cleaning up the cobwebs between SOEs and their patron politicians, the power players have launched campaigns against a new generation of nouveau richeentrepreneurs-cum-lawmakers. In late May, the National Assembly voted 96 percent in favor of ousting deputy Dang Thi Hoang Yen, one of only a few non-Communist Party tycoons in the legislature on trumped up charges of lying on her resume.

Yen’s real crime: repeatedly calling for fair treatment of private businesses, which comprise nearly half of the economy. “To clean the house is more than the system can handle,” says David Brown, a former American diplomat in Hanoi.

In June, the government’s tightening of credit helped bring down inflation from 23 percent last August to 6.9 percent. The problem now, complain small factory owners like Nguyen, is that the flood of easy credit has increased the chances of a banking crisis. After two devastating SOE collapses, the government is admitting that something might be fundamentally wrong with its financial system. The country’s central bank head Nguyen Van Binh said in early June that about 10 percent of debt at Vietnamese banks is bad. Instead of reforming the economy, the government is suggesting more of the same: One plan is to create a national asset-management agency with $4.8 billion to deal with the debts. But that would mean setting up yet another bureaucracy caught within the patronage networks between the party elites, banks, and companies.

Investors already complain about being overburdened with red tape, and a lot of them are now thinking about moving to Indonesia, Bangladesh, and Myanmar, said Denny Cowger, a corporate lawyer at Duane Morris, an American law firm with offices in Hanoi and Ho Chi Minh City. In the World Economic Forum’s Global Competitive Report for 2011 and 2012, Vietnam fell six places to number 65, due to  burdensome regulations, inflation, budget deficits, and strained infrastructure )it commended the country for a fairly efficient labor market and “innovation potential”).

The state sector, meanwhile, continues to gobble up as much as 40 percent of GDP. “The bottom line is that Vietnam must undertake some fundamental domestic economic reforms to remain competitive,” said Carl Thayer, an emeritus professor at the University of New South Wales. “It is more likely that Vietnam’s leaders will use the global financial crisis as an excuse for more of the same.”

Foreign Affairs

July/August 2012

Trading Up in Asia

Why the United States Needs the Trans-Pacific Partnership

 Bernard K. Gordon

 BERNARD K. GORDON is Professor Emeritus of Political Science at the University of New Hampshire. He is the author of America’s Trade Follies and a forthcoming book about the Trans-Pacific Partnership. 

As the Doha Round of global trade talks nears its 12th year with no end in sight, the negotiations have all but failed.

Frustrated with Doha’s stagnation and eager to expand trade and secure alliances, the United States has signed a series of bilateral free-trade agreements (FTAs), culminating in last year’s pacts with Colombia, Panama, and South Korea. These deals have been generally favorable to the United States; the agreement with South Korea is expected to increase trade between the two countries by billions of dollars and create tens of thousands of jobs for each.

 Despite these results, the bilateral approach doesn’t offer much promise. The passage of last year’s deals ended a five -year standoff between, on the one side, most Republicans in the House of Representatives and pro-trade advocates in the business community and, on the other, House Democrats, most unions, and U.S. car producers, which fought particularly hard against the deal with South Korea due to long-standing restrictions against U.S. car sales there.

After a difficult process of lobbying, wrangling, and compromise, the Obama administration has little stomach left to attempt another bilateral deal.

 To move its trade agenda forward, the White House has instead embraced a measure between the global Doha Round and the bilateral FTAs: a plurilateral process centered on the Trans-Pacific Partnership. Currently being negotiated by Australia, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore, the United States, and Vietnam, the TPP will represent one of the world’s most expansive trade agreements. And if Canada, Mexico, and especially Japan, all of which expressed interest in joining the negotiations last November, also sign the agreement, the TPP will add billions to the U.S. economy and solidify Washington’s political, financial, and military commitment to the Pacific for decades to come. Given the potential windfall, the Obama administration believes that the TPP has a better chance of overcoming domestic opposition than would a Doha agreement or new bilateral deals.

 But the TPP faces obstacles. Critics in several nations involved in the negotiations fear that the United States, to protect its businesses and innovators, is trying to use the agreement to impose its own expansive copyright and patent regulations on its trade partners. The relative secrecy surrounding the TPP talks has only deepened those anxieties.

Negotiators have allowed interested stakeholders, from industry to the general public, to present information at open TPP sessions, but they have refused to release the texts of the negotiations. If the Obama administration fails to accommodate reservations about intellectual property rights and make the talks more transparent, there is a growing possibility that the TPP could collapse. The resulting failure would represent a major defeat for the Obama administration and undermine its goal of ensuring a long-term presence for the United States in the Asia-Pacific region.

PACIFIC PROMISE

As currently proposed, the TPP would go well beyond categories traditionally included in trade agreements. To begin with, over the next decade, it would gradually remove all tariffs on trade between member states. Following the model of the FTA between the United States and South Korea, it would affect almost all forms of economic interaction among its members, covering policies on investment and government procurement, labor and environmental standards, agriculture, intellectual property, and such new sectors as state-owned and small and medium-sized enterprises, businesses with anywhere between 50 and 500 employees. The United States and its partners hope that the TPP becomes the linchpin of free trade in the Asia-Pacific region.

 But the TPP cannot achieve that potential without Japan. The country’s GDP is more than double that of all the other TPP nations combined, save for the United States. Including Japan would mean that the agreement covered 40 percent of global GDP and add $60 billion to the U.S. export market. That is why the Obama administration and the U.S. export sector declared its support for Japan’s addition to the TPP when Tokyo indicated its interest in joining.

This past December, more than 60 American food and agricultural organizations sent a joint statement to Ron Kirk, the U.S. trade representative, and Tom Vilsack, the U.S. secretary of agriculture, encouraging them “to smooth the way for Japan’s full participation.” A week later, the Business Roundtable, an association of CEOs, and the U.S.

Business Coalition for TPP, a collection of companies in favor of the free-trade agreement, sent similar letters to the U.S. trade representative. In March, Wendy Cutler, an assistant U.S. trade representative, told an audience in Tokyo that “the prospect of Japan joining the TPP . . . is important; it’s historic. And frankly it’s exciting.”

Enticed by that possibility, the Obama administration has made the TPP the keystone of its trade policy, and it is doing all that it can to shape the agreement in the United States’ favor. For example, it has emphasised encouraging and protecting the interests of small and medium-sized enterprises. Such businesses generally have little experience in dealing with imports or exports, but Washington hopes to enhance their role in the TPP because they compose the bulk of U.S. employment and so by aiding them, it may be able to build domestic support for trade. Americans have long been indifferent to trade, believing that it benefits mainly foreigners, costs them jobs, and contributes to the U.S. trade deficit, which is seen as inherently negative despite the fact that it has long coincided with American trading and political power.

PROPERTY WRONGS

 Even as Washington hopes that its efforts to shape the TPP will sooth the concerns of U.S. industries and unions, it has already rankled public interest groups and the governments of the other countries negotiating the agreement –particularly when it comes to intellectual property.

 In February 2011, a draft text regarding intellectual property from the TPP negotiations was leaked online. A number of U.S. and foreign groups, such as Intellectual Property Watch, Public Knowledge, TPP Watch, and Anonymous harshly criticized several measures outlined in the document. In particular, they condemned proposals for criminal enforcement of copyright and patent law that go beyond existing treaties between the various negotiating countries.

They also asserted that the TPP would require Internet service providers to identify users and that the United States is unreasonably seeking to impose its own extensive copyright protections on the agreement. U.S. law stipulates that the vast majority of copyrights should end after 70 years, but critics claim, incorrectly, that the Obama administration has called for the TPP to include a 95-year minimum copyright term on some works. The legal scholars Sean Flynn and Jimmy Koo captured critics’ fears when they wrote in 2011 that the TPP would create “the most extreme, anti-consumer and anti-development international instrument on intellectual property to date.”

 The administration has supported these proposals not to harm consumers but to protect American innovators.

Intellectual property is already a major source of value for the United States; in 2010, for example, 40 percent of worldwide payments made to intellectual property holders — nearly $100 billion — went to Americans. According to the U.S. Commerce Department, those sums matched the profits earned from the export of aircraft, grain, and business services, three sectors that lead the U.S. trade surplus. And U.S. intellectual property will only become more important in the coming years, as several U.S.-based technological innovations, such as next-generation manufacturing techniques and cutting-edge wireless communications, drive the country’s trade. The creators of those technologies will need as much shelter under the TPP as those who currently hold copyrights and patents under U.S. law.

 The United States is hardly the only nation affiliated with the TPP that has an interest in securing copyright and patent protections for its citizens. In 2008, for example, Japan led the world in patent applications. And Singapore, with its multibillion-dollar biotechnology investments, also needs to protect its homegrown efforts. In rightly defending the intellectual property rights of American innovators, the United States has also led the way for these other nations. But it is clear that some of those countries do not believe that the United States has their best interests in mind.

 FREE TALKS

 Despite the broad interest in strong intellectual property protections among some countries negotiating the TPP, some nations continue to charge that the United States is making unreasonable demands. At the 11th TPP negotiating session, in Australia this past March, for example, the Australian press reported that every TPP negotiating member had rebuffed U.S. proposals regarding intellectual property rights. And in mid-April, several negotiators from Chile put the future of the agreement in doubt when they questioned “whether joining the TPP would be worth its costs if it included additional demands on intellectual property.”

 Meanwhile, during the same meeting in Australia in March, several organizations condemned the TPP for its potential impact on the availability of cheap drugs. Doctors Without Borders, for example, accused the U.S. government of inserting provisions into the TPP that would interfere with the low-cost delivery of malaria and HIV/AIDS medicines to developing nations. During a previous round of TPP negotiations, the group claimed that the agreement would “extend monopoly protection for old drugs by simply making minor modifications to existing formulas,” thereby preventing the introduction of cheaper generic drugs.

The U.S. government has not addressed every accusation leveled against it in the TPP process, but in late February, Demetrios Marantis, the deputy U.S. trade representative, said that his office “strongly disagree[s]” with Doctors Without Borders. He pointed out that the Office of the U.S. Trade Representative had six months earlier established a nine-point TPP program, “Trade Enhancing Access to Medicines,” to ensure, in his words, that “generic drugs can get into the market as quickly as possible.”

 The United States has thus at least begun to address the anxieties of TPP skeptics. But a bigger problem remains. In the age of the Internet, rumors about provisions within the agreement can quickly spark worldwide resistance. More transparency and better information about the negotiating process could help counter such rumors. And although the United States and its partners have been receptive to presentations from interested individuals and groups, they have not fully opened the process to the public, fueling legitimate concerns about the ultimate shape of the agreement. In January, for example, Gary Horlick, a prominent trade lawyer and former U.S. trade official, described the TPP process as “the least transparent trade negotiation I have ever seen.” Although Kirk, the U.S. trade representative, has called the negotiations “the most open, transparent process ever,” his team has presented very little of the U.S. position to the public or even to interested parties not officially involved in TPP discussions.

The issue came to a head this past February, when 23 U.S. organizations representing the libraries of virtually every American research institution and university urged the Obama administration to “mandate public access” to the negotiation draft texts. They argued that the provisions of the TPP “will touch every American family” and that “the enforceability and permanence of such binding rules . . . necessitate maximal transparency.” Days later, Senator Ron

Wyden (D-Ore.) raised the request in a tense exchange in a hearing with Kirk. Responding to the statement, Kirk said that the Obama administration has “moved to disclose more information sooner than any previous administration.”

 Unsatisfied with Kirk’s response, Wyden introduced legislation that would require the disclosure of any TPP negotiating text “not later than 24 hours after the document is shared with other parties.” Wyden’s proposal failed to gain traction, but the clamor for more openness in the TPP talks remains, both in the United States and abroad.

A NEW KIND OF DEAL

 If the TPP negotiations bear fruit, the United States will become far stronger, economically and politically, over the next generation. A deal that included Japan would essentially result in a free-trade agreement between Washington and Tokyo, representing the long-sought “third opening” of Japan and the affirmation of U.S. power in the Pacific region. More broadly, the United States hopes that the TPP will cement a system of open, interconnected trade based on mutually-agreed-on rules.

That is why the U.S. government hopes to complete the broad outlines of a final deal by the end of the year. But first it must win over domestic opposition to the TPP, especially among the country’s automotive, insurance, and agricultural sectors. It also needs to accommodate, wherever possible, the concerns of critics at home and abroad about its intellectual property demands. And it must shed more light on the negotiating process. If the Obama administration fails to take these steps, then it may miss an opportunity to pave the way for a new kind of trade agreement and to reaffirm its economic and political stake in the Pacific.

 Copyright © 2002-2012 by the Council on Foreign Relations, Inc.

All rights reserved. To request permission to distribute or reprint this article, please fill out and submit a Permissions Request Form. If you plan to use this article in a coursepack or academic website, visit Copyright Clearance Center to clear permission.

Home > Comment > Trading Up in Asia

Published on Foreign Affairs(http://www.foreignaffairs.com)

%d bloggers like this: