TTXVN (Niu Yoóc 13/8)
Tài liệu ngày 5/8 của Viện Nghiên cứu Trung Quốc “Jamestown Foundation” của Mỹ cho biết hơn hai thập kỷ qua Bắc Kinh theo đuổi một chính sách nhất quán ở Biển Đông gồm hai yếu tố chính: từng bước tăng cường các tuyên bố lãnh thổ và quyền tài phán đồng thời nỗ lực khẳng định với các nước Đông Nam Á các ý đồ hòa bình của Trung Quốc. Các động thái gần đây nhằm thúc đẩy các tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc thể hiện rõ yếu tố thứ nhất, nhưng tái khẳng định ý đồ ôn hòa đã biến mất. Thực tế không thể xoa dịu các mối quan ngại của khu vực Đông Nam Á liên quan đến thái độ quyết đoán của Bắc Kinh, Trung Quốc trắng trợn lợi dụng các mâu thuẫn trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) để đẩy mạnh hơn nữa các lợi ích quốc gia của nước này.
Trung Quốc củng cố lập trường cứng rắn: Các bài bình luận đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng do nhà nước quản lý phân tích vấn đề Biển Đông cho thấy ít có khả năng hòa giải. Nhiều ý kiến thể hiện một số chủ đề mới trong đường lối chính thức của Trung Quốc. Một trong các chủ đề đó là lãnh thổ, chủ quyền cũng như các lợi ích và quyền lãnh hải của Trung Quốc đang ngày càng bị thách thức bởi các nước Đông Nam Á và Nhật Bản ở khu vực Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam) và biển Nhật Bản (Trung Quốc gọi là biển Hoa Đông). Bắc Kinh cho biết phản ứng của Trung Quốc sẽ là: kiên quyết bảo vệ các tuyên bố chủ quyền lãnh hải, tăng cường sự hiện diện quân sự ở các vùng biển tranh chấp và nếu cần thiết, chuẩn bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các nước khác. Như một bài bình luận cho rằng hợp tác phải thiện chí, cạnh tranh phải mạnh mẽ và đối đầu phải kiên quyết. Chủ đề thứ hai, trong khi Trung Quốc thể hiện sự kiềm chế, các nước như Philíppin và Việt Nam đã và đang theo đuổi những hành động khiêu khích và bất hợp pháp nhằm cướp bóc các nguồn tài nguyên biển như khí đốt và thủy sản mà Trung Quốc cho đó là của họ. Chủ đề thứ ba, Manila và Hà Nội tiếp tục khuyến khích Mỹ can thiệp vào Biển Đông và Mỹ sử dụng bất đồng như một cái cớ để thực hiện chiến lược trở lại châu Á. Để đảo ngược những xu hướng tiêu cực này, giới bình luận Trung Quốc kêu gọi Chính quyền Bắc Kinh áp dụng các biện pháp kiên quyết hơn nữa ở các khu vực lãnh thổ và biên giới biển bất đồng. Họ cho rằng ý thức dân tộc đòi hỏi không được nhẹ tay. Thực tế, các biện pháp mới đây của các nhà chức trách Trung Quốc thể hiện quan điểm đường lối cứng rắn hơn. Đáng lo ngại, một số sáng kiến của Trung Quốc có cả yếu tố quân sự mạnh mẽ, có lẽ nhằm cảnh báo các bên tranh chấp chủ quyền lãnh thổ khác rằng Trung Quốc sẵn sàng mạnh tay. Nhưng ý đồ rõ ràng nhất của Trung Quốc để thúc đẩy các tuyên bố chủ quyền tài phán của họ ở Biển Đông là nâng cao vị thế hành chính của Tam Sa từ quận lên cấp tỉnh vào tháng 6/2012.
Trung Quốc thành lập Tam Sa năm 2007 như một bộ máy hành chính để quản lý quần đảo Hoàng Sa, Macclesfield Bank và quần đảo Trường Sa. Việc nâng cấp Tam Sa của Bắc Kinh như một phản ứng ngay sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua một đạo luật ngày 21/6/2012, trong đó tái khẳng định tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam và Trung Quốc phản đối những hành động của nhau là vi phạm chủ quyền của họ. Sau đó chưa đầy một tháng, các nhà chức trách của thành phố Tam Sa bầu chọn một 1 thị trưởng, 3 phó thị trưởng và Ủy ban Quân sự Trung ương của Trung Quốc quyết định thành lập đơn vị quân đội đồn trú nhằm quản lý việc huy động quốc phòng, các lực lượng quân sự dự bị và tiến hành các hoạt động quân sự. Cuối tháng 6/2012, Bộ Quốc phòng Trung Quốc thông báo bắt đầu các hoạt động tuần tra “sẵn sàng chiến đấu” trên quần đảo Trường Sa nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và các lợi ích phát triển an ninh của Trung Quốc. Ngày 13/7/2012, một sự kiện gây lúng túng cho Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), khi một tàu khu trục của PLA bị mắc cạn ở bãi đá Half Moon ở phía Tây đảo Palawan của Philíppin 70 hải lý và thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của Philíppin. Chiếc tàu khu trục này được cứu nạn trong 24 giờ cho thấy các tàu khác của PLA đang hoạt động ở khu vực gần đó khi sự cố xảy ra. Những phát triển trên khẳng định Trung Quốc quân sự hóa các bất đồng ngày càng tăng. Trung Quốc cũng dần dần bất chấp các tuyên bố và hoạt động thương mại của Philíppin và Việt Nam trên Biển Đông bằng nhiều cách khác. Tháng 6/2012, Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) do nhà nước quản lý đã mời các công ty năng lượng nước ngoài tham gia đấu thầu thăm dò 9 lô dầu khí ở Biển Đông. Các lô dầu khí dự định đấu thầu quốc tế của Trung Quốc nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và chồng lấn các lô dầu khí đã được công ty PetroVietnam đề nghị phát triển với các công ty năng lượng quốc tế. Vì vậy, Việt Nam phản đối mạnh mẽ việc đấu thầu của CNOOC. Quan trọng hơn, các lô đề nghị đấu thầu quốc tế của Trung Quốc đều nằm ở bên rìa của tấm bản đồ đường 9 đoạn của Trung Quốc và dường như để hỗ trợ lý lẽ của Bắc Kinh cho rằng các đường gạch ngang là giới hạn ngoài cùng “các quyền lịch sử” của Trung Quốc trên Biển Đông. Nhưng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, các quốc gia ven biển không được vi phạm “các quyền lịch sử” trên các vùng biển quốc tế. Do đó, chắc chắn bất cứ công ty năng lượng lớn nào cũng không thể tham gia đấu thầu các lô dầu khí của CNOOC, mặc dù các công ty nhỏ hơn có thể làm điều đó nếu chỉ hành động để lấy lòng Bắc Kinh nhằm giành được các hợp đồng béo bở hơn trong các vụ làm ăn với Trung Quốc. Nhưng nếu việc thăm dò 9 lô được thúc đẩy, khả năng các tàu chiến của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam và Trung Quốc sẽ xung đột với nhau. Về vấn đề sở hữu bãi đá Hoàng Nham và cuộc đối đầu căng thẳng giữa các tàu chiến bảo vệ việc đánh cá của Trung Quốc và Philíppin trong tháng 5-6/2012, quan điểm của Trung Quốc vẫn thỏa hiệp.
Tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN (ARF) hàng năm ở Phnôm Pênh của Campuchia tháng 7/2012, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tái khẳng định các tuyên bố chủ quyền đối với bãi đá Hoàng Nham và bác bỏ các ý kiến cho rằng đây là khu vực bất đồng và tố cáo Manila “gây rắc rối”. Theo Bộ Ngoại giao Philíppin, các tàu đánh cá Trung Quốc, được nhiều tàu chiến bán dân sự bảo vệ, tiếp tục đánh bắt cá ở các vùng nước gần bãi đá Hoàng Nham trái với một thỏa thuận song phương mà hai bên đã đồng ý rút tất cả các tàu của họ.
Sau Diễn đàn ARF, Trung Quốc tiếp tục gây sức ép đối với Philíppin. Giữa tháng 7/2012, Bắc Kinh đưa khoảng 30 tàu đánh cá đến quần đảo Trường Sa dưới sự bảo vệ của một tàu mang tên Ngư Chính 310 có trọng tải 3.000 tấn. Các tàu cá Trung Quốc khai thác san hô và đánh bắt cá gần đảo Pagasa do Philíppin kiểm soát và các bãi đá ngầm Mischief và Subi do Trung Quốc kiểm soát. Các nhà chức trách Philíppin theo dõi tình hình nhưng không hành động.
Thất bại của Phnôm Pênh: Trước đây, sau khi có những hành động quyết đoán ở Biển Đông, Bắc Kinh thường tìm cách trấn an nỗi lo ngại của các nước khu vực Đông Nam Á. Nhưng tại các hội nghị của ASEAN ở Phnôm Pênh giữa tháng 7/2012, các quan chức Trung Quốc không đưa ra bất cứ bảo đảm nào với các đối tác Đông Nam Á của họ. Tệ hơn nữa, Trung Quốc dường như sử dụng ảnh hưởng của họ đối với Campuchia – hiện đang giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN – để ngăn chặn các nỗ lực của ASEAN nhằm giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông và gây mất đoàn kết trong nội bộ ASEAN. Trong giai đoạn cuối hội nghị thường niên của các bộ trưởng ngoại giao ASEAN (AMM), Philípppin và Việt Nam muốn bản thông cáo chung cuối cùng phản ánh mối lo ngại sâu sắc của họ về sự kiện bãi đá Hoàng Nham và hồ sơ gọi thầu CNOOC. Các nước Xinhgapo, Inđônêxia, Malaixia và Thái Lan cảm thấy ASEAN nên có chung một tiếng nói, đã ủng hội Philíppin và Việt Nam . Trong khi đó, Campuchia, có mối quan hệ chính trị và kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc, đã bác bỏ các đề nghị của Philíppin và Việt Nam . Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong cho rằng: “ASEAN không thể được sử dụng như một tòa án để giải quyết các bất đồng song phương”. Bộ trưởng Ngoại giao Inđônêxia Marty Natalegawa có ý định thuyết phục các nước thành viên đạt được một thỏa hiệp về các từ ngữ trong bản thông cáo chung nhưng không thành công và lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm, AMM không ra được thông cáo chung cuối cùng. Tác động của AMM thể hiện ngay lập tức. Bộ trưởng Ngoại giao Natalegawa khẳng định, ASEAN không đạt được thỏa thuận là “vô trách nhiệm” và vai trò trung tâm của ASEAN trong việc xây dựng cơ cấu an ninh khu vực đã bị thách thức. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Xinhgapo K. Shanmugam mô tả thất bại đó như một “vết nhơ” về sự tín nhiệm của ASEAN. Campuchia và Philíppin đổ lỗi thất bại của hội nghị cho nhau. Báo chí khu vực chỉ trích Campuchia thiếu trách nhiệm của nước lãnh đạo và đặt mối quan hệ song phương với Trung Quốc trên toàn bộ lợi ích của ASEAN. Một nhà phân tích cho biết các quan chức Campuchia đã tham khảo ý kiến các đối tác Trung Quốc trong giai đoạn cuối của các cuộc đàm phán để đạt được sự nhất trí về bản thông cáo chung. Tờ “Thời báo Hoàn cầu” của Trung Quốc mô tả kết quả của Hội nghị AMM là một thắng lợi lớn của Trung Quốc – nước cho rằng ASEAN không phải là địa điểm thích hợp để thảo luận các tranh chấp và cho đó là một thất bại của Philíppin và Việt Nam.
Sau Hội nghị AMM vài ngày, Tổng thống Inđônêxia Susilo Bambang Yudhoyono cử Bộ trưởng Ngoại giao nước này đến 5 nước Đông Nam Á nhằm nỗ lực khôi phục đoàn kết của ASEAN. Chuyến ngoại giao con thoi của Bộ trưởng Natalegawa dẫn đến bản tuyên bố ngày 20/7/2012 của các bộ trưởng ngoại giao ASEAN về Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Nhưng 6 điểm không tạo cơ sở mới mà chỉ tái khẳng định sự đồng thuận đường lối cơ bản của ASEAN về Biển Đông. Phản ứng trước tuyên bố chung đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết họ sẽ phối hợp với ASEAN để thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002. Một trong sáu điểm kêu gọi các bên sớm ký kết một bộ qui tắc ứng xử (COC) về Biển Đông, nhưng sự sụp đổ của hội nghị Phnôm Pênh khiến mục tiêu đó khó có thể trở thành hiện thực. Mặc dù Trung Quốc đồng ý thảo luận một COC với ASEAN trong tháng 11/2012, nhưng Bắc Kinh luôn luôn tỏ ra thờ ơ về một thỏa thuận như vậy và thay vào đó họ muốn tập trung thực hiện DOC. Bất chấp quan điểm của Trung Quốc, đầu năm nay ASEAN bắt đầu xây dựng các nguyên tắc chỉ đạo cho một đạo luật và tháng 6/2012 đã nhất trí một loạt các nội dung như đề nghị, trong đó có hai khía cạnh đáng chú ý: thứ nhất, ASEAN đề nghị giải quyết bất đồng “toàn diện và vững chắc”, một cụm từ dường như bác bỏ đề nghị trước đây của Đặng Tiểu Bình cho rằng các bên nên hoãn các tuyên bố chủ quyền và cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên biển. Rõ ràng, 4 nước tuyên bố chủ quyền của ASEAN đã phủ nhận công thức của Đặng Tiểu Bình bởi vì hợp tác với Trung Quốc, nghĩa là các nước đã công nhận “chủ quyền không thể tranh cãi” của Bắc Kinh đối với các đảo san hô ở Biển Đông. Khía cạnh thứ hai liên quan đến cơ chế giải quyết các tranh chấp xuất phát từ các vi phạm hoặc cách hiểu không đúng đạo luật như đã đề nghị. Tài liệu này cho thấy các bên tranh chấp chuyển sang Hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC) năm 1976 hoặc các cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS. Nhưng cách làm đó sẽ không có lợi. Mặc dù TAC sẽ tạo ra một cơ chế giải quyết tranh chấp bằng hình thức thiết lập một Hội đồng Tối cao ASEAN, nhưng điều khoản này chưa bao giờ được đưa ra do bản chất chính trị hóa cao của Hội đồng Tối cao và thực tế Hội đồng này không thể đưa ra các quy định ràng buộc. Hơn nữa, mặc dù tham gia TAC năm 2003, nhưng chắc chắn Bắc Kinh sẽ phản đối thảo luận về Biển Đông ở cấp hội đồng Tối cao bởi vì Bắc Kinh sẽ phải đối mặt với con số vượt trội 10/1. UNCLOS sẽ tạo ra các cơ chế giải quyết tranh chấp ràng buộc, kể cả việc gửi các tranh chấp lên Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) hoặc Tòa án Quốc tế về Luật biển (ITLOS). Nhưng Bắc Kinh luôn luôn bác bỏ vai trò của Tòa án Quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và năm 2006, Trung Quốc đã sử dụng các quyền của họ để lựa chọn các thủ tục của ITLOS liên quan đến phân định ranh giới biển và các hoạt động quân sự. Ngày 9/7, Thứ trưởng Ngoại giao Phó Oánh tuyên bố trước các bộ trưởng ngoại giao ASEAN rằng Trung Quốc sẵn sàng bắt đầu các cuộc đàm phán về một COC trong tháng 9/2012. Nhưng sau đó 2 ngày, khi ASEAN tranh cãi về bản thông cáo chung cuối cùng, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trì Khiết Trì dường như bác bỏ tuyên bố đó khi ông ta tuyên bố các cuộc thảo luận chỉ có thể diễn ra “khi thời gian chín muồi”.
Hiện nay ASEAN và Trung Quốc không dự kiến tổ chức bất kỳ hội nghị nào về COC, mặc dù các quan chức hiện đang thảo luận các dự án liên kết hợp tác theo DOC. Trường hợp khi hai bên ngồi với nhau để thảo luận COC, khả năng Bắc Kinh sẽ yêu cầu hủy bỏ tất cả các tài liệu về giải quyết tranh chấp trên cơ sở cho rằng đạo luật như đã đề nghị sẽ chỉ quản lý các căng thẳng, và tranh chấp chỉ có thể được giải quyết giữa Trung Quốc với từng nước trên cơ sở một-một. Tóm lại, những phát triển đó sẽ làm lu mờ nghiêm trọng triển vọng Trung Quốc và ASEAN đạt được thỏa thuận trên cơ sở đạo luật hành xử quan trọng nhằm giải quyết các bất đồng Biển Đông trong thời gian tới. Như vậy, tình trạng hiện nay sẽ tiếp tục kéo dài trong tương lai gần.
***
TTXVN (Băngcốc 16/8)
Tờ “Bưu điện Băngcốc” ngày 9/8 đăng bình luận của Robert A. Manning, một học giả trong Hội đồng Atlantic, về trọng tâm mới của Bắc Kinh khi Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa.
Theo bài báo, mặc dù không bố trí các tàu sân bay tới Thái Bình Dương hay đưa 2.500 quân tới đồn trú tại Ôxtrâylia, nhưng việc thành lập thành phố Tam Sa mới đây của Trung Quốc trong khu vực Hoàng Sa đang tranh chấp sẽ đưa vở kịch địa chính trị trên Biển Đông sang một giai đoạn mới. Hành động leo thang này có thể có tầm quan trọng chiến lược như là một phần của việc Bắc Kinh đáp lại “trọng tâm” mà Mỹ đang rêu rao hay còn gọi là tái cân bằng tại châu Á.
Việc thành lập một thành phố mới trên đảo san hô dài 2km ở Biển Đông (có dân số khoảng 150 ngư dân), với đầy đủ bộ máy chính quyền và quân đội sẽ làm cho vấn đề vượt ra khỏi một cuộc tranh cãi ngoại giao với các nước cùng tuyên bố chủ quyền khác, trong trường hợp này là Philíppin và Việt Nam. Trung Quốc dường như cũng coi thành phố Tam Sa mới này như một trung tâm hành chính và để kiểm soát một khu vực rộng lớn hơn nữa trên Biển Đông.
Hành động của Trung Quốc diễn ra khi Việt Nam thông qua Luật Biển khẳng định tuyên bố của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mặc dù không trùng khớp, nhưng hành động của Bắc Kinh cũng diễn ra sau việc các nhà lãnh đạo ASEAN không ra được thông cáo chung liên quan tới các hòn đảo và bãi ngầm đang tranh chấp ở Hoàng Sa và Trường Sa, nơi có nhiều bãi đá cũng như nguồn dầu khí và trầm tích phong phú. Điều này khiến Ngoại trưởng Inđônêxia Marty Natalegawa phải thực hiện các chuyến đi con thoi trong khu vực tới Việt Nam, Campuchia, Xinhgapo và Malaixia nhằm khôi phục lập trường chung trong ASEAN về vấn đề Biển Đông, gồm cả việc ủng hộ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002.
Trong khi ASEAN, với sự ủng hộ của Mỹ, đã tìm cách giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán đa phương, thì Trung Quốc vẫn khẳng định việc thảo luận song phương với từng nước tuyên bố chủ quyền, nơi họ có thể lấn át hơn.
Bắc Kinh lâu nay vẫn khẳng định rằng trong vòng cái được xác định là “đường chín đoạn”, chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông, là thuộc chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc. Tuyên bố này hoàn toàn mâu thuẫn với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, giới hạn các khu kinh tế trong vòng 338km thềm lục địa của một quốc gia.
Bắc Kinh biện luận rằng những tuyên bố về chủ quyền này của Trung Quốc có trước Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển và cũng phù hợp với công ước này. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa kiểm soát được đảo Phú Lâm, nơi mà họ gọi là Vĩnh Hưng, cho tới năm 1974 khi họ có một cuộc giao chiến hải quân với Hà Nội khiến 71 lính Việt Nam hy sinh.
Trong năm 2010, Trung Quốc đã tuyên bố rằng những phần lãnh thổ tranh chấp trên Biển Đông là một phần trong “lợi ích cốt lõi” của họ giống như chủ quyền lãnh thổ không thể chối cãi đối với trường hợp Đài Loan và Tây Tạng. Bắc Kinh sau đó cũng đã xem xét lại quan điểm này khi có sự phản đối mạnh mẽ của ASEAN và Mỹ. Tuy nhiên, các biện pháp mới của Trung Quốc không thuyết phục được rằng họ đã có sự định nghĩa kiềm chế hơn về lợi ích cốt lõi.
Những hành động của Trung Quốc có thể được vạch định nhằm đưa ra những thông điệp vượt trên cái gọi là tuyên bố chủ quyền. Chủ nghĩa dân tộc là một vấn đề dễ thay đổi tại Trung Quốc và việc để Trung Quốc bị “cạnh tranh” bởi những quốc gia nhỏ như Philíppin và Việt Nam là một sự xúc phạm đối với quốc gia này. Vào thời điểm khi tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng và giới lãnh đạo đang trong thời kỳ chuyển giao, chủ nghĩa dân tộc đại chúng có thể được coi như một thuật nghi binh đáng khen ngợi.
Nhưng cũng có một điểm lớn hơn là kể từ khi Oasinhtơn thông báo chiến lược “tái cân bằng” của họ bằng việc sẽ cử 60% lực lượng hải quân tới đồn trú tại Thái Bình Dương vào năm 2020 thì các nhà chiến lược Trung Quốc vẫn chưa biết làm thế nào để đối phó. Mỹ sẽ không thể hiện lập trường về những tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông ngoài việc mong muốn nhìn thấy các bên giải quyết một cách hòa bình. Lợi ích quốc gia cơ bản của Mỹ là việc duy trì tự do hàng hải.
Liệu Bắc Kinh có nhận thấy cần phải thể hiện sự quyết đoán của họ để Oasinhtơn có thể thấy một chút về bản sắc riêng của nước này trong học thuyết Monroe hay không? Để đảm bảo, Bắc Kinh sẽ phải hiểu rõ rằng sự khẳng định của họ sẽ không gồm cả Đông Á và có xu thế hướng tới các quốc gia nhỏ hơn đang nghiêng về phía Mỹ nhằm cân bằng với Trung Quốc.
Nhưng Bắc Kinh dường như đang tính toán rằng bất chấp tư thế quân sự mạnh mẽ hơn của Mỹ trong khu vực, Trung Quốc vẫn có thể đương đầu và sự đáp lại của Mỹ sẽ chỉ giới hạn ở những lời quở trách ngoại giao. Bắc Kinh dường như đang đánh cược rằng Mỹ sẽ không can thiệp quân sự nếu có một cuộc đụng độ hải quân giữa Trung Quốc và Việt Nam hoặc Philíppin trên Biển Đông.
Có thể có một thông điệp từ phía Bắc Kinh rằng “đây là láng giềng của chúng tôi, người ngoài không nên can thiệp vào”. Nhưng đâu là lôgích về vai trò của Trung Quốc trong một trật tự quốc tế? Đây là một vấn đề nếu trong một thế giới có trật tự, Trung Quốc tìm kiếm một vai trò lớn hơn để hình thành các quy định xứng với tầm vóc chính trị và kinh tế ngày càng tăng của họ. Nó sẽ hoàn toàn là một vấn đề khác nếu thông điệp này chỉ đơn thuần về sức mạnh.
***
Tờ “Bưu điện Băngcốc” số cuối tháng 7/2012 đăng bình luận với tiêu đề “Trung Quốc, Mỹ khoét rộng thêm vết rạn nứt trong ASEAN”, trong đó cho rằng mặc dù ASEAN cố tỏ ra là một mặt trận thống nhất, nhưng việc không thể đưa ra được một thông cáo chung đã cho thấy sự chia rẽ sâu sắc ngay trong khối này và ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ đối với một số nước thành viên.
Việc ra thông cáo chung sau cuộc họp cấp Ngoại trưởng hàng năm là vấn đề cũ như chính bản thân ASEAN. Vì thế, sự bất ngờ không thể đạt được trong năm nay là một thất bại nghiêm trọng đối với khối này và là một cú đánh quyết định đối với uy tín cũng như sự gắn bó của khối hướng tới việc hình thành một Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Mặc dù thiệt hại về ngoại giao ở Phnôm Pênh sẽ bị bưng bít, nhưng vẫn cần có những nỗ lực nghiêm túc và hiệu quả trước khi Hội nghị thượng đỉnh ASEAN và các Hội nghị cấp cao có liên quan với những đối tác lớn diễn ra vào tháng 11 năm nay.
Những gì diễn ra tại Phnôm Pênh ngày 13/7 vừa qua vẫn chưa được khẳng định và chưa hoàn toàn rõ ràng. Nhưng có thể hiểu rằng việc không thể đứng chung trên một vị trí của ASEAN là do sự thiếu đồng tình của Campuchia với Philíppin và Việt Nam . Với tư cách là Chủ tịch ASEAN năm 2012, Campuchia đã từ chối đưa vào những vấn đề cụ thể liên quan tới Bãi cạn Scarborough trên Biển Đông, nơi đang bị tranh chấp giữa Philíppin và Trung Quốc. Việt Nam cũng muốn đưa thêm từ ngữ về quyền của mình đối với Vùng đặc quyền kinh tế, như đã được Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển thừa nhận.
Nói một cách khác là cả Manila và Hà Nội đã bác bỏ và thách thức tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với toàn bộ Biển Đông, nơi có hơn một nửa tàu thuyền trên toàn cầu qua lại. Ngoài Philíppin và Việt Nam , Brunây và Malaixia cũng là những nước ASEAN tuyên bố chủ quyền các phần trên Biển Đông đối mặt với Trung Quốc.
Nền tảng rộng lớn hơn cho tranh cãi này là việc thiết lập các quy định cần thiết để trở thành công thức chung và cùng được thực hiện bởi cả Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền trong ASEAN. Những quy định như vậy, được cho là Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC), sẽ ngăn cản các giải pháp quân sự đồng thời là sự bày tỏ về tranh chấp lãnh thổ và đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp theo quan điểm luật pháp quốc tế. Với biện pháp thăm dò sự hiểu biết, ASEAN và Trung Quốc đã có được Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Dưới sự chủ trì của Campuchia, DOC có lẽ cần được nâng lên, hoàn thiện và hệ thống thành COC. Nhưng thất bại của ASEAN tại Phnôm Pênh có nghĩa là COC vẫn đang bị lảng tránh.
Để đạt được sự thịnh vượng và nền hòa bình cần phải có các quy định và các thể chế giải quyết xung đột, thách thức và những tình thế khó xử trong khu vực. Vì vậy, Biển Đông là một thử nghiệm quan trọng đối với tương lai của Đông Nam Á.
Sau tranh cãi tại Phnôm Pênh, vai trò và ý định chiến lược của Trung Quốc cần phải được đưa vào trọng tâm, nhưng chúng không thể được xem xét tách rời khỏi chiến lược của Mỹ nhằm tái cân bằng các nguồn tài nguyên và của cải của họ đang ngày càng được đổ dồn tới Đông Á và Thái Bình Dương.
Với vai trò là chủ tịch, Campuchia sẽ khó tránh khỏi bị đổ lỗi vì không thể đi đến được một thông cáo chung, kể cả khi có sự nhất trí không cần văn bản, điều mà ASEAN vẫn thường làm trong quá khứ. Lần này ASEAN cũng bất đồng và sự bất đồng này được chứng tỏ bằng việc không có được một văn bản.
Trung Quốc đã trở thành nhà nước bảo trợ mở rộng của Phnôm Pênh khi đổ hơn 10 tỷ USD viện trợ và đầu tư vào đây trong nhiều năm qua. Kể cả Cung hòa bình tại Phnôm Pênh nơi các bộ trưởng ASEAN ngồi họp cũng do Trung Quốc xây dựng và được trang trí theo nghệ thuật của Trung Quốc.
Nhưng không phải vì thế mà Manila có thể rút lại yêu cầu đưa vấn đề tranh chấp Bãi cạn Scarborough với Bắc Kinh vào trong văn bản. Đây là nơi mà Mỹ đang xem xét việc cân bằng trở lại. Với một hiệp ước đồng minh của Oasinhtơn, Manila không thể thiếu sự quyết đoán và có nhiều biện pháp để củng cố tư thế của họ mà chưa cần tới sự tái cân bằng tại Thái Bình Dương của Mỹ. Mặc dù khó có thể tưởng tượng việc Oasinhtơn sẵn sàng gây chiến với Bắc Kinh xung quanh vài “khối đá” mà Manila tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng cũng có thể tin được rằng trọng tâm, cam kết và cách giải quyết can dự trở lại của Oasinhtơn sẽ khuyến khích Philíppin chống lại Trung Quốc một cách ầm ĩ.
Vai trò của Việt Nam tại Phnôm Pênh vẫn chưa rõ ràng. Đòi hỏi của Việt Nam về Vùng đặc quyền kinh tế trong thông cáo chung có thể được coi là chủ nghĩa cơ hội. Nếu Manila có thể đề cập tới Bãi cạn Scarborough , thì tại sao Hà Nội lại không thể đề cập tới Vùng đặc quyền kinh tế?
Tất cả sự thể hiện của Campuchia và Philíppin làm tăng thêm mối nghi ngờ về phương diện ngoại giao. Nếu các nhà ngoại giao dày dạn kinh nghiệm hiện diện ở cả hai bên, họ có thể đưa ra một lập trường chung mà không nhất thiết phải gây ầm ĩ. Trong trường hợp của Campuchia, người ta có quyền nghi ngờ các nhà ngoại giao của nước này nếu thực tế đúng như những gì được cho rằng Campuchia đã chia sẻ dự thảo thông cáo chung với Trung Quốc.
Có 3 yếu tố dẫn đến sự khác biệt trong ASEAN. Đầu tiên, tư thế của Trung Quốc là hoàn toàn chủ động, với bằng chứng là vấn đề Biển Đông. Điểm này thể hiện sự tự chủ của Trung Quốc như mệnh lệnh nội bộ cho sự tăng trưởng, chuyển giao sự lãnh đạo mới (điều không thể thể hiện sự yếu kém), xâm nhập vào mối quan hệ ASEAN, đặc biệt là Campuchia, Lào, Mianma và Thái Lan để mở rộng dần dần. Trung Quốc biết rằng sức ép của họ đối với một số nước ASEAN có thể cản trở việc đi đến lập trường chung của ASEAN, như là khi Philíppin thúc đẩy việc thực hiện Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông. Trung Quốc vì thế đang chiến thắng trong cách tiếp cận song phương hiện nay.
Thứ hai, Mỹ đang can dự nhiều hơn, khác hẳn so với thập kỷ trước. Sự tái cân bằng của họ có nghĩa một vài thành viên ASEAN có thể dựa vào tư thế mới của Mỹ để đối mặt với Trung Quốc. Philíppin hiện đang ở tuyến đầu tại đây, tiếp theo là Việt Nam , Malaixia và Brunây. Nói một cách khác, những vết rạn nội bộ hiện nay của ASEAN không chỉ hoàn toàn là do sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, mà còn do việc can dự trở lại rõ ràng của Mỹ.
Thứ ba, sự gắn kết nội bộ của ASEAN không giống như những gì trước đây họ sử dụng. Ở một khía cạnh, Hiến chương ASEAN hệ thống hóa thêm nhiều sự hợp tác và kết nối. Ở một khía cạnh khác, lợi ích của các nước thành viên ASEAN lại khác nhau. Mục tiêu một Cộng đồng vào năm 2015 có thể không được như giá trị đặt ra. Ở mức độ nhỏ nhất, Cộng đồng an ninh chính trị ASEAN (APSC) – một trong ba trụ cột của hiến chương – hiện đang xuất hiện thách thức theo quan điểm về những gì đã xảy ra ở Phnôm Pênh. Điều này đặt ra câu hỏi liệu khả năng Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN có hỗ trợ được cho APSC hay không.
Các quốc gia biển và lục địa trong ASEAN dường như ngày càng bị ảnh hưởng bởi những lợi ích khác nhau. Để sửa lại những sai lầm gần đây của mình và lấy lại động lực hướng tới năm 2015, lãnh đạo của các nước thành viên ASEAN sẽ có rất nhiều việc phải làm từ nay cho tới tháng 11/2012. Những nỗ lực cuối cùng của Ngoại trưởng Inđônêxia Marty Natalegawa để đi tới một tuyên bố sáu điểm, cái khẳng định lại nguyên tắc của DOC, đã vớt vát được thể diện cho ASEAN và tránh được điều bị coi là thảm họa. Khả năng lãnh đạo như vậy cần được nhân rộng và chia sẻ bởi các thành viên ASEAN khác trong những tháng tới.
***
(Đài RFA 14/8)
ASEAN đã kỷ niệm 45 năm thành lập kể từ khi ra đời năm 1967, cũng là thời điểm phải thực hiện cải tổ nếu không muốn trở thành vô hiệu từ sự kiện gây nhiều chú ý là đã không thể ra được thông cáo chung khi kết thúc hội nghị bộ trưởng ngoại giao lần thứ 45 ở Phnôm Pênh.
Đó cũng là quan điểm của ông Kavi Chongkittavorn, nhà nghiên cứu ASEAN, kiêm nhà bình luận và cũng là nhà báo tự do với những bài nhận định về ASEAN và châu Á trên báo chí ở Thái Lan. Bài do Thanh Trúc thực hiện sau đây:
ASEAN tròn 45 tuổi ngày 8/8, và tới lúc này khuyến cáo trước đây từ cựu Ngoại trưởng Xinhgapo S.Rajaratnam vẫn còn giá trị, rằng nếu không đoàn kết thành một khối thì ASEAN sẽ trở thành một tổ chức rời rạc và bị chia rẽ.
Hiện tượng chia rẽ sâu sắc giữa các thành viên
Ông Kavi Chongkittavorn cho biết: “Có thể nói đến lúc này Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong vẫn đang liên lạc với các đối tác của ông ta trong ASEAN để có thể tiến tới một tài liệu khả dĩ thay thế được thông cáo chung mà ASEAN đã không đưa ra được sau hội nghị bộ trưởng ngoại giao lần thứ 45 vừa qua ở Phnôm Pênh. Theo tôi, điều khẩn thiết là cần lấy lại niềm tin đã suy giảm giữa các nước thành viên. Cho tới lúc hội nghị gần kết thúc, các nước mới chỉ đồng ý về một vài điều cơ bản quanh vấn đề ứng xử, dẫn tới chuyện là thay vì nhất trí với nhau, nội dung thảo luận của ASEAN đã không thể giải quyết vấn đề gây tranh cãi là tình hình bất ổn trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Với những tiếp xúc và liên lạc ngoại giao mấy tuần qua, gần như đã rõ chuyện Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong cố đả thông tư tưởng của Ngoại trưởng Inđônêxia Marty Netalegawa và Ngoại trưởng Xinhgapo K.Shanmugam về vấn đề liên quan”.
Theo nhà báo Kavi Chongkittavorn, đã có một số nước thành viên ASEAN lo ngại rằng tình hình tranh chấp trên Biển Đông sẽ làm lu mờ các đề tài khác mà ASEAN cần thảo luận. Nếu sự bất đồng này tồn tại, ông Kavi Chongkittavorn khẳng định, chẳng những sẽ phương hại đến Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tháng 11/2012 mà còn cả những kế hoạch hội họp của tổ chức này trong tương lai.
Sự thể cho thấy sau khi Tổng thống Inđônêxia Bambang Yudhoyono và Thủ tướng Xinhgapo Lý Hiển Long gửi văn thư nêu vấn đề với Thủ tướng Campuchia Hun Sen, Thủ tướng Malaixia Nazib Razak cũng gửi tiếp một văn thư đến ông Hun Sen, nhấn mạnh là không nên để vấn đề tranh chấp trên Biển Đông ảnh hưởng đến Cộng đồng ASEAN. Và quả là đáng tiếc khi Thái Lan, quốc gia giữ vai trò trung gian giữa ASEAN và Trung Quốc, không có ý kiến gì về việc này.
Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã phúc đáp thư của lãnh đạo Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia bằng cách đề cập tới văn thư ngày 26/7 do Ngoại trưởng Hor Namhong gửi đến các đối tác của ông trong ASEAN, nói đến nỗ lực hết sức chính đáng của Campuchia để tiến tới một thông cáo liên quốc gia nhưng đã không thành vì không đạt đồng thuận giải quyết tình hình tranh chấp trên Biển Đông.
“Trong những ngày tới nếu ASEAN không sớm tiến tới được một văn bản chung tới thì điều này chứng tỏ tổ chức đang ở trong giai đoạn u ám nhất kể từ ngày thành lập. Quan trọng nhất là điều này phản ảnh sự yếu kém của Campuchia trong lúc Phnôm Pênh cố thuyết phục rằng hội nghị bộ trưởng ngoại giao lần thứ 45 đã thành công vượt bậc dưới sự chủ trì của Phnôm Pênh. Mục đích của Phnôm Pênh là đề cao sự thành công nhưng thực tế đã chứng minh ngược lại”. Ông Kavi Chongkittavorn trình bày tiếp, thực tế cũng cho thấy đã có sự thảo luận không chính thức giữa một số viên chức cũng như học giả trong ASEAN về sự cần thiết phải có một văn bản hướng dẫn liên quan đến việc lựa chọn chủ tịch luân phiên ASEAN trong tương lai.
Biển Đông – một bài học cho ASEAN
Cho đến lúc này chưa có một điều lệ hay một văn bản hướng dẫn rõ ràng về tương quan giữa nước chủ tịch luân phiên với những cơ quan hay thành phần trong nội bộ ASEAN, về việc tổng thư ký của khối và nhân viên thuộc vị trí này có thể hỗ trợ cho công việc của nước chủ tịch ASEAN như thế nào.
Theo ông Kavi Chongkittavorn, suốt bốn thập niên qua các bộ trưởng ASEAN đều nghĩ có thể nhất trí với nhau trước bất kỳ vấn đề nào liên quan tới tổ chức, thế nhưng sự kiện vừa qua ở Phnôm Pênh đã khiến ý nghĩ này phải thay đổi:
“Quan trọng hơn nữa, vì lợi ích và sự cần thiết phải có trong tiến trình điều phối cũng như tiến trình hợp tác đa phương, phải xét lại vai trò của tổng thư ký cũng như bộ phận hành chính của ASEAN. Hơn nữa, những ý kiến bất đồng về tình hình tranh chấp trên biển giữa các quốc gia thành viên ASEAN lúc này gần như trùng hợp với những lời kêu gọi khẩn thiết của Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan. Trong một bản báo cáo đặc biệt về những thử thách mà ASEAN và cơ quan hành chính của ASEAN ở Inđônêxia phải đương đầu, tiến sĩ Surin Pitsuwan từng yêu cầu các nhà lãnh đạo mười nước ASEAN trình bày rõ ràng về vai trò, nhiệm vụ và sự tương quan giữa từng cơ quan trong ASEAN với nhau.
Khi Hiến chương ASEAN có hiệu lực năm 2008, nhiều cơ quan mới đã hình thành như Hội đồng điều phối ASEAN, Ủy ban An ninh Chính trị ASEAN, Ủy ban Kinh tế ASEAN, Ủy ban Văn hóa Xã hội ASEAN, v.v…
Cùng thời điểm đó, tổng thư ký ASEAN được coi như người đứng đầu phòng hành chính ASEAN và người đó phải từng là bộ trưởng hoặc là một viên chức thuộc cơ quan ngang bộ. Vì thế có thể giải thích tại sao ông Lê Lương Minh, người thay thế ông Surin trong chức vụ tổng thư ký là một Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam ”.
Các nhà lãnh đạo ASEAN sẽ phải quyết định có nên xem xét lại Hiến chương ASEAN hay không để có thể tăng cường hiệu quả và năng lực hoạt động của khối. Sau khi Hiến chương ASEAN có hiệu lực năm 2008, các nước thành viên còn đạt thêm một số đồng thuận khác và đưa vào áp dụng cho tới nay.
Nhưng vẫn theo sự quan sát của chuyên gia ASEAN Kavi Chongkittavorn, đừng mong đợi ASEAN hoạt động một cách hữu hiệu nếu không có sự thảo luận hoàn chỉnh về cấu trúc và tương quan giữa các bộ phận hành chính trong ASEAN.
Những câu hỏi cấp thiết mà lãnh đạo các nước ASEAN phải nghĩ tới. Thứ nhất, tổng thư ký ASEAN có phải chỉ là đại diện của ASEAN ở cấp bộ trưởng. Thứ hai, nếu tổng thư ký ASEAN được quyền tham dự những hội nghị thượng đỉnh hoặc hội nghị cấp bộ trưởng, trong đó có hội nghị G20 hoặc những điễn đàn quốc tế khác, thì liệu vai trò của vị tổng thư ký này có khác vai trò của các bộ trưởng trong ASEAN?
Theo ông Kavi Chongkittavorn, nếu câu trả lời là có thì phải đánh giá vai trò của tổng thư ký ASEAN đến mức độ nào để có thể phản ánh lập trường và tiếng nói chung của ASEAN. Đây cũng là yêu cầu mà ông Surin Pitsuwan, hiện là Tổng thư ký ASEAN, cựu Ngoại trưởng Thái Lan, nhiều lần nhắc tới trong hai năm qua. Ông Kavi Chongkittavorn nói:
“Là tổ chức chỉ đạo, ASEAN cần duyệt lại hiến chương và cần thực hiện bước cải tổ mạnh mẽ. Là nước chủ tịch luân phiên ASEAN năm tới, tôi nghĩ Brunây phải mạnh dạn khởi xướng việc này. Những ý kiến cải tổ do Tổng thư ký Surin Pitsuwan đề xướng cần nhận được sự ủng hộ vì ông ta có tầm nhìn và có 5 năm kinh nghiệm trong chức vụ này”.
Nếu không thay đổi và cải tổ, chuyên gia ASEAN Kavi Chongkittavorn kết luận, ASEAN sẽ gặp nhiều trở ngại trước những vấn đề có tính chất quốc tế trong tổ chức và chính những vấn đề đó làm cho cả khối ASEAN trở nên suy yếu chia rẽ hơn./.

Advertisements